Theo phân tích của nhiều chuyên gia, hai cách tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với việc chuyển nhượng bất động sản (BĐS) như lâu nay có nhiều bất ổn, dễ dẫn đến sự lạm dụng.
Trong Thông
tư số 113/2011, Bộ Tài chính hướng dẫn: Cá nhân chuyển nhượng nhà, đất
đã được cấp giấy chứng nhận được áp dụng thuế suất là 25% tính trên thu
nhập chuyển nhượng (= giá chuyển nhượng - giá vốn) kèm theo điều kiện
bắt buộc phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp chứng minh giá vốn. Mức thuế
này cũng được áp dụng tương tự đối với việc chuyển nhượng hợp đồng mua
bán nhà ở hình thành trong tương lai.
Rất ít người được nộp 25%
Thế
nhưng nghịch lý là cho đến thời điểm này, cơ quan thuế các cấp không hề
được giao thẩm quyền cung cấp hóa đơn cho người bán BĐS để xuất cho
người mua. Cá nhân người bán BĐS cũng không được quyền tự in hóa đơn để
giao cho người mua. Như vậy có nghĩa là toàn bộ hoạt động mua, bán BĐS
giữa các cá nhân với nhau đều không thể có hóa đơn để chứng minh giá
vốn. (Có lẽ chỉ trừ trường hợp thanh toán bằng chuyển khoản giữa hai tài
khoản ngân hàng của hai bên mua, bán.)
Đối với nhà ở hình thành
trong tương lai, cho đến thời điểm chuyển nhượng, nhà ở vẫn chưa được
hình thành. Vậy làm thế nào để xác định giá vốn căn nhà sẽ hình thành
trong tương lai? Đơn vị kinh doanh dự án nhà chắc chắn không thể cung
cấp hóa đơn, chứng từ trong trường hợp này.
Hậu
quả của các quy định trên là rất ít người được tính thuế 25% trên thu
nhập chuyển nhượng mà phải đóng 2% theo giá chuyển nhượng thực tế ghi
trên hợp đồng chuyển nhượng (nếu cao hơn bảng giá đất, giá tính lệ phí
trước bạ nhà do UBND cấp tỉnh quy định). Khi đó, cơ quan thuế chỉ thu
thuế theo quy định pháp luật, không quan tâm đến việc người thực hiện
chuyển nhượng này lãi hay lỗ.
Hóa đơn chỉ phản ánh giá thực góp
Cũng
theo Thông tư 113, đối với hợp đồng mua bán nền nhà, hợp đồng góp vốn
để có quyền mua nền nhà, nhà, căn hộ ký trước thời điểm Nghị định số
71/2010 của Chính phủ có hiệu lực thi hành thì được kê khai, nộp thuế
TNCN 25% trên thu nhập chuyển nhượng. Điều kiện cần cũng là có hóa đơn,
chứng từ hợp pháp chứng minh giá vốn.
Lại là nghịch lý vì vào
thời điểm giao dịch, cá nhân bán nền nhà, nhà, căn hộ chưa thanh toán
xong tiền mua nền nhà, nhà, căn hộ cho đơn vị kinh doanh đất dự án. Căn
cứ vào số tiền vốn đã góp/tiền mua nền đã trả, đơn vị kinh doanh đất dự
án chỉ xuất hóa đơn đúng giá trị thực góp. Do đó, giá trị ghi trên hóa
đơn sẽ không thể phản ánh chính xác giá vốn mua nền nhà, nhà, căn hộ
theo hợp đồng. Người bán sẽ bị thiệt thòi do chênh lệch giá bán - giá
vốn cao hơn thực tế. Cho nên họ phải khai báo không có hóa đơn để được
tính thuế TNCN 2% trên giá chuyển nhượng theo hợp đồng.
Xem ra
với các quy định mới trong Thông tư 113, Bộ Tài chính đã gián tiếp xóa
bỏ phương pháp tính thuế TNCN 25% trên thu nhập chuyển nhượng BĐS và chỉ
thực hiện duy nhất cách tính thuế TNCN 2% trên giá trị chuyển nhượng
theo hợp đồng. Vậy có cần tiếp tục duy trì cách tính 25%?
|
Không chấp nhận quan điểm tận thu
Tính
từ năm 2008 đến nay, Bộ Tài chính đã ban hành đến sáu thông tư về thuế
TNCN. Đáng nói là qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng cách tính thuế
TNCN đối với việc chuyển nhượng BĐS (bao gồm cả nhà, đất đã có giấy
chứng nhận và nhà, đất hình thành trong tương lai) vẫn chưa phải đã rõ
ràng, hợp lý.
Điều 14, 23 Luật Thuế TNCN định ra hai mức thu
tương thích: 25% trên chênh lệch giữa giá chuyển nhượng với giá mua và
các chi phí liên quan; 2% trên giá chuyển nhượng trong trường hợp không
xác định được giá mua và chi phí liên quan. Giá chuyển nhượng là giá
theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng; giá mua là giá theo hợp đồng
tại thời điểm mua.
Luật quy định vậy nhưng các thông tư đặt thêm
nhiều đòi hỏi. Thông tư 12/2011 yêu cầu giá chuyển nhượng hợp đồng mua
bán nhà ở hình thành trong tương lai phải phù hợp giá thị trường. Nếu
không phù hợp thì cơ quan thuế sẽ ấn định giá tính thuế sau khi tham
khảo giá giao dịch tại các sàn giao dịch BĐS. Nhưng thế nào là giá thị
trường? Khi người dân thường tự giao dịch với nhau thì lấy đâu ra giá
sàn? Do không dựa trên thực tế nên các quy định trở nên chông chênh và
kéo theo đó là sự tắc tị hoàn toàn có thể nhìn thấy trước!
Giờ
Thông tư 113 bắt buộc người nộp thuế phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp
chứng minh giá vốn, giá chuyển nhượng. Còn như ngược lại thì phải nộp
thuế trên giá ghi ở hợp đồng. Với quy định đã nêu ở trên của Luật Thuế
TNCN về giá chuyển nhượng, giá mua, tại sao không chiếu theo hợp đồng để
xác định hai loại giá này? Câu trả lời tuy không chính thức nhưng đều
nằm ở chỗ cơ quan thuế không thể nhất nhất thu theo giá ghi ở hợp đồng
bởi giá đó thường... không thật. Ngại dân né thuế mà các thông tư cứ
liên tục ra đời, cái sau “xuôi tai” hơn cái trước một chút nhưng việc
thực hiện thì vẫn cứ không suôn sẻ.
Mặc cho các vị ở Tổng cục
Thuế ra sức lý lẽ, số đông vẫn không thể nào chấp nhận điều trái khoáy
“bán lỗ cũng phải nộp thuế”. Cùng có hợp đồng công chứng ghi rõ giá mua,
giá bán, tại sao khi bán lời (giá bán cao hơn giá mua) thì được nộp 25%
trên phần chênh lệch, còn nếu bán huề vốn hoặc bán lỗ (giá bán bằng
hoặc thấp hơn giá mua) thì phải nộp 2% trên giá chuyển nhượng?
Việc
thu thuế cần đơn giản hơn và không được gây thiệt thòi cho người nộp
thuế. Một cách thu 2% trên giá chuyển nhượng có thể là giải pháp tốt cho
việc này thay vì có hai cách thu khá rắc rối dễ dẫn đến tận thu như lâu
nay. (Luật sư TRẦN CÔNG LY TAO) |
Theo Pháp luật TP HCM